Home Văn Mẫu THCSVăn Lớp 9 Phân tích tấm lòng giá nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán”

Phân tích tấm lòng giá nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán”

by Minh Nguyệt

Trong văn học Việt Nam từ cổ chí kim vốn luôn đề cao tấm lòng nhân đạo. Đó là sự ngợi ca phẩm giá con người, là tiếng thương xót lòng cho cuộc đời đau khổ. Nhà văn, nhà thơ phải thực sự sống sâu với đời, hết mình vì nhân vật của mình thì ngòi trang tạo sự đồng cảm nơi người đọc. Nguyễn Du được mệnh danh là nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn bởi trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Du luôn đề cao tình yêu thương, “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. “Truyện Kiều” là tác phẩm tiêu biểu của ông tạo sự đồng cảm cho hết thảy thế hệ người đọc bở giá trị nhân đạo của nó tỏa ra. “Thúy Kiều báo ân báo oán” là đoạn trích minh chứng cho tấm lòng nhân đạo ấy của Nguyễn Du. Với đề văn tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán” trong chương trình Ngữ Văn 9, chúng ta cần làm nổi bật tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du qua việc Kiều báo ân với Thúc Sinh và báo oán với Hoạn Thư. Dưới đây là bài văn mẫu tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán” để mọi người có một hướng tiếp cận với đề văn này.

BÀI LÀM VĂN SỐ 1 TẤM LÒNG NHÂN ĐẠO CỦA NGUYỄN DU QUA ĐOẠN TRÍCH “THÚY KIỀU BÁO ÂN BÁO OÁN”

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. “Truyện Kiều” là tác phẩm làm nên tên tuổi của ông, kể về cuộc đời và số phận lênh đênh mười lăm năm lưu lạc của người con gái tài hoa bạc mệnh Thúy Kiều. “Thúy Kiều báo ân báo oán” là một đoạn trích tiêu biểu đã thể hiện được tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua việc Kiều báo ân báo oán.

Tấm lòng nhân đạo là tình yêu thương con người. Tấm lòng nhân đạo trong văm học là sự ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp con người, là tấm lòng thương cảm, xót xa trước số phận con người bị đày đọa. “Thúy Kiều báo ân báo oán” là đoạn trích thể hiện tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua việc Thúy Kiều trả ơn và báo oán. Đoạn trích nằm ở phần hai “Gia biến và lưu lạc”. Trải qua biết bao nạn nọ nạn kia, tưởng rằng phải buông xuôi trước số phận, chính lúc Kiều vô vọng thì Từ Hải xuất hiện – người anh hùng áo vải đội trời đạp đất đã cứu Kiều khỏi lầu xanh và giúp nàng đền ơn trả oán. Đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán” miêu tả cảnh Kiều đền ơn những người đã cưu mang giúp đỡ nàng và trừng trị những kẻ đã hại nàng. Đoạn trích thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo chủ nghĩa lớn của Nguyễn Du, là sự thể hiện ước mơ công lí theo quan niệm của quần chúng nhân dân: con người bị áp bức đau khổ vùng lên tìm công lí, “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”.

Trước hết đoạn trích tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du được thể hiện qua cảnh Kiều đền ơn với Thúc Sinh. Trong những người có ơn, Thúc Sinh là người Kiều nhớ tới đầu tiên bởi chàng Thúc là người cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cho nàng cuộc sống gia đình. Thúc Sinh được mời tới nơi Kiều xử án trong cảnh “gươm lớn giáo dài”, khiến chàng thư sinh họ Thúc “Mặt như chàm đổ mình dường dẽ run”. Hình ảnh ấy gợi trắc ẩn trong lòng Kiều. Những lời nói của nàng với Thúc Sinh xuất phát từ một tấm lòng tri ân, từ tấm lòng trả ơn chân thật:

 “Nàng rằng: Nghĩa nặng nghìn non

Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không? 

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng.

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”

Ta có thể thấy nàng rất trọng tấm lòng và sự giúp đỡ mà Thúc Sinh đã dành cho mình:Thúc Sinh đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát khỏi cảnh đời ô nhục. Cùng với chàng Thúc Sinh, Kiều có những ngày tháng êm ấm trong hạnh phúc gia đình, nàng gọi đó là “nghĩa nặng tình non”. Vì gắn bó với Thúc Sinh mà đời Kiều thêm một lần khổ, là một kẻ tôi đòi. Tuy nhiên, Kiều hiểu nỗi đau của nàng không phải do Thúc Sinh gây ra mà thủ phạm là Hoạn Thư. Với Kiều thì dù có “gấm trăn cuốn, bạc nghìn cân” cũng chưa xứng với ơn nghĩa của Thúc Sinh. Tấm lòng “nghĩa nặng tình non” thì gấm vóc bạc vàng nào có thể cân đo cho được? Khi nói với Thúc Sinh, Kiều dùng những từ Hán Việt như “nghĩa, tòng, cố nhân, tạ”, điển cố “Sâm Thương” – cách nói sang trọng này phù hợp với chàng họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều.

Trong khi nói với Thúc Sinh, Kiều đã nhắc tới Hoạn Thư:

“Vợ chàng quỷ quái tinh ma, 

Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.

 Kiến bò miệng chén chưa lâu, 

Mưu sâu cũng trả, nghĩa sâu cho vừa”

Như vậyvới Kiều Hoạn Thư là người khiến nàng không thể vẹn chữ tòng với chàng Thúc, là người đã đày đọa nàng, đã đẩy nàng vào sự đau khổ, xót xa, hờn tủi. Nỗi đau oán hận ấy, Kiều quyết phải trả oán cho bằng được. Điều đó phù hợp với quan niệm có áp bức thì có đấu tranh đòi công lí của nhân dân ta.

Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du còn được thể hiện trong cảnh báo oán của Kiều với Hoạn Thư, thể hiện quan niệm “ở ác gặp ác”. Vừa trông thấy Hoạn Thư, Kiều đã thay đổi giọng điệu:

“Thoắt trông nàng đã chào thưa:

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!”

Hành động và lời nói của Kiều biểu thị thái độ miệt thị với Hoạn Thư. Nàng đã dùng cách xưng hô của Hoạn Thư trước đây khi Kiều còn làm hoa nô cho nhà họ Hoạn. Trong lời nói của Kiều còn có cả sự đay nghiến. Những câu thơ như dằn ra từng tiếng:

“Đàn bà dễ có mấy tay

Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan! 

Dễ dàng là thói hồng nhan

 Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều.”

Thái độ ấy cho thấu nàng quyết trừng trị Hoạn Thư theo đúng qui luật “càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.

Trước lời nói, thái độ của Kiều, phút giây đầu, Hoạn Thư có “hồn lạc phách xiêu” nhưng ngay cả trong hoàn cảnh ấy, Hoạn Thư vẫn kịp nhiễu điều kêu ca để biện bạch cho mình. Trước hết, Hoạn Thư dựa vào tâm lý thường tình của người phụ nữ thường hay ghen:

“Rằng: Tôi chút phận đàn bà

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình” Tiếp đến Hoạn Thư kể lại công ơn cho Kiều:

“Nghĩ cho khi gác viết kinh

Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo”

Hoạn Thư đã cho Kiều viết kinh ở Gác Quan Âm và khi Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư, Hoạn Thư cũng không cho người đuổi theo sau nữa. Hoạn Thư nói về tình cảm riêng tư thì rất ngưỡng mộ tài năng, đức hạnh của Kiều:

“Lòng riêng riêng những kính yêu

Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai

 Trót lòng gây việc chông gai 

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”

Dù ngưỡng mộ đến đâu, yêu kính thế nào thì Hoạn Thư cũng không nhường Thúc Sinh cho nàng. Cuối cùng, Hoạn Thư nhận tất cả tội lỗi về mình và nói rằng cười là người bao dung độ lượng tha cho họ thương hay không là tùy thuộc vào tấm lòng đó.

Quyết tâm báo oán, nhưng trước những lời biện bạch “chí tình chí lí” của Hoạn Thư, cuối cùng Kiều quyết định tha cho Hoạn Thư:

“Khen cho thực đã nên rằng

Khôn ngoan rất mực nói năng phải lời

Tha ra thì cũng may đời, 

Làm ra mang tiếng là người nhỏ nhen

 Đã lòng tri quá thì nên:

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”

Hành động tha Hoạn Thư của Thúy Kiều là cách ứng xử phù hợp với quy luật cuộc sống, rất con người, rất trần thế: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”.

Nguyễn Du đã thể nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ đối thoại đặc sắc qua hai nhân vật Thúy Kiều và Hoạn Thư. Đoạn trích có sự thay đổi tình tiết so với “Kim Vân Kiều truyện ” đó là hành động tha cho Hoạn Thư của Thúy Kiều càng làm nổi bật hình ảnh Kiều rất trung hậu, cao thượng, bao dung. Thay đổi để tái sinh một cuộc sống mới, một con người mới, ở một tầm cao mới, đó không chỉ là tài năng, tâm sức mà còn là bản lĩnh và cái tầm của một thiên tài Nguyễn Du.

Đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán” đã thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đó là ước mơ công lí, về hạnh phúc con người. Đoạn thơ mang lại cho mỗi người bài học về sự ứng xử sâu sắc giữa người với người.

Nguồn Internet

You may also like

Leave a Comment